
Cái xóm Bàn
Cờ tôi ở ngày xưa là một xóm cụt, nằm phía sau
tiệm tạp hóa Châu Anh, mặt tiền của tiệm
này nằm ngay trên đường Phan Đ́nh Phùng. Bên hông tiệm
là con ngơ hẹp. Đi
chừng hai chục bước, quẹo trái là vào xóm
của tôi.
Trong xóm có chín căn
nhà, cái cao cái thấp, hàng hiên nhô ra thụt vào, như
một hàm răng khập khểnh xấu xí, cuối xóm là
bức tường cao chắn ngang.
Nhà
của tôi nằm kẹt ở giữa, bên phải là nhà ông
bà Chất. Ông Chất có hai
vợ, mỗi bà có chừng năm, sáu đứa con. Đám con thường tụ
họp ở nhà bà vợ cả, để dán hộp
giấy bỏ mối. Tôi không
nhớ hết tên đám con ông Chất, chỉ chơi
với con Bích, bằng tuổi tôi, bị tàn tật, hai chân
teo lại nhỏ xíu, lọc cọc lê đôi nạng
gỗ. Con Bích không đi học v́ nó bị trêu chọc là
con què, rồi bị dấu mất đôi nạng
gỗ. Sau này
bố nó cho nó vào viện trẻ em tàn tật, học
chữ và học nghề luôn.
Kế nhà ông Chất
là nhà cô Bàng, ở cuối ngơ, chạy xe
đ̣ chở hàng. Sát cô là
đứa em gái rồi tới ba đứa em trai, đều
lớn tuổi hơn anh tôi . Chúng hay bắt nạt và lấy
đồ chơi của trẻ con hàng xóm, trong số
đó có anh em tôi. Mẹ tôi thấy chúng tôi bị đánh, mất
đồ chơi th́ xót lắm, chỉ biết khuyên chúng
tôi nên tránh xa tụi nó. Có
mách với cô Bàng cũng chẳng đến đâu, v́ cô
ấy không đe nẹt mà c̣n binh lũ
em, quay ra căi nhau với hàng xóm.
Cô rất ghen v́ chồng có tính ăn
chơi, phóng đăng. Cô thường
kéo lũ em đi dánh ghen, cầm dao, cầm
gậy, rất hùng hổ.
Mỗi lần cô sửa soạn đi đánh ghen, lũ trẻ đang chơi ngoài ngơ, vội
chạy về nhà, đóng cửa, thập tḥ, lấp ló nh́n
ra. Cả xóm
vừa ghét lại vừa sợ gia đ́nh cô. Về sau cô ghen quá
hóa dại, đổ dầu vào bụng, châm lửa
đốt để dọa chồng. Ai ngờ, cháy
thật, cháy to, cô bị phỏng nặng, nằm nhà
thương mấy tháng rồi chết. Cả xóm thở phào
nhẹ nhơm. Lũ em
mất chị như rắn mất đầu, không c̣n hung
hăn như trước nữa.
Chồng cô cũng dọn ra ở
với người khác.
Cũng
ở cuối ngơ, đối diện với nhà cô Bàng là nhà
cụ Tịch. Ông bà cụ khoảng trên sáu
mươi, không con cái, c̣n khỏe mạnh. Ông cụ làm cho
tiệm hớt tóc đầu đường. Bà
cụ quẩy gánh bán xôi chè từ sáng sớm đến
chiều mới về. Ông bà
thích con nít. Lũ
trẻ con hay vào nhà cụ, chạy loanh quanh trên lầu,
dưới nhà, chơi đi trốn đi t́m. C̣n tôi th́ thơ
thẩn quanh bà, xem bà ngâm gạo, đăi đậu, hoặc
phụ bà lau bụi bàn ghế hay quét nhà cho bà v́ bà hay cho tôi
xôi dừa. Xem
ra ông bà cụ hạnh phúc lắm. Thỉnh thoảng tôi bắt
gặp ông nằm trên chiếc phản gỗ, giơ chân cù
bụng bà lúc bà đang mải vói tay, móc
màn cho ông đi ngủ, để hở một khoảng
bụng trắng hếu.
Sát vách
nhà cụ Tịch là nhà ông bà Chính. Chính là tên
cậu con trai duy nhất, học Luật, bị suyễn
nặng. Chưa thấy
cậu đă nghe tiếng cậu ho sù sụ, vang lên từ
ngoài ngơ. Bố
cậu tập cho cậu hút thuốc phiện để
đỡ ho. Nhà cậu
lúc nào cũng đóng cửa im ỉm, mùi thuốc phiện thơm ngào ngạt.
Chả bao giờ tôi thấy mặt bố con
cậu. Bà Chính
th́ cả ngày ở ngoài đường, chạy buôn hàng
xách, thế mà cũng chỉ vừa đủ tiền mua
thuốc phiện cho hai cha con hút. Những khi túng quẩn, bà
chạy sang mượn tiền mẹ tôi, để mua thêm
quà bánh cho cậu lúc cậu học thi.
Kế
đó là nhà cô Kiên, nằm đối diện với nhà
của bố mẹ tôi. Cô Kiên tuy có hai con nhưng xinh
đẹp và hay chưng diện. Con Khanh rất dễ thương,
kém tôi hai tuổi. Cô chỉ lo
chăm sóc thằng con trai nhỏ, c̣n con Khanh ít
được mẹ để ư tới lại phải
làm mọi thứ việc vặt trong nhà. Chồng cô đi làm
về là vào bếp nấu cơm, giặt giũ, và làm đủ
thứ việc khác. Thế mà chồng cô không phàn nàn ǵ cả, lại
c̣n vui vẻ là khác.
Sát nhà cô
là nhà của ông bà Luân, có hai trai, hai gái. Cái Hạnh lớn nhất, hơn tôi một
tuổi, c̣n cái Ḥa thua tôi một tuổi. Tôi chơi thân
với chị em nó. Hai đứa em trai, thằng Phong, thằng Phan, hay
chơi với nhau trong nhà, ít khi đánh lộn. Cái nhà của ông bà Luân có căn gác
khá rộng, ông bà đang xây cầu thang phía ngoài riêng
biệt, cho thuê để kiếm thêm tiền.
Kế
nhà ông bà Luân là mặt sau của tiệm hoa vải Thanh B́nh
và tiệm tạp hóa Châu Anh.
Mấy nhà này không có con nít nên không được coi như
là một phần của xóm tôi.
Bên tay
trái nhà tôi là nhà của cô Nga. Chồng cô là lính Dù. Cô không đi làm, chỉ lo việc
nhà rồi viết thư cho chồng. Cô Kiên hay qua chơi với cô, nói
chuyện quần áo, son phấn, và trăm thứ chuyện
khác, rất lâu. Cô hay nằm vơng lúc buổi
trưa, hát tân nhạc, ca vọng cổ, rồi ngủ
thiếp đi. Giọng
cô véo von, hay hay. Hôm nào cô đi thăm chồng, thấy nhớ tiếng
hát của cô.
Kế đó là nhà cô Kỳ.
Chú Kỳ chạy xe hơi thuê, c̣n cô ở nhà giữ
con. Cô có 5 đứa, một
gái bốn trai. Trong khi mẹ
tôi th́ một trai, bốn gái. Con Dung bằng tuổi anh tôi,
và bốn chị em tôi cùng tuổi với bốn
đứa con trai của cô.
Thằng Hưng, Dũng, Tiến, và Tuấn, rất
nghịch, hay bắt chuột để dọa lũ con
gái, thấy chúng tôi sợ dúm người, bụm mặt,
hét ầm ĩ, chúng thích chí cười sằng sặc. Chúng c̣n bắt dế và ve sầu bỏ
trong sáp nến nấu chảy, để nguội cứng
lại rồi đem cho bọn chúng tôi. Nhưng chúng không dữ và hay
đánh lộn như lũ em cô Bàng.
Sát nhà cô là một dẫy nhà ngang, có bốn căn, nh́n ra
con ngơ hẹp. Căn cuối
là lớp mẫu giáo của bà Hai, nổi tiếng nghiêm
khắc. Bà Hai trừng
phạy học tṛ gái bằng cách véo đùi non, và trừng
phạt tṛ trai bằng cách đập thước kẻ
vào mu tay.
Lũ trẻ xóm tôi học hết lớp bà Hai th́ vào
trường tiểu học Bàn Cờ, đi loanh quanh xuyên
qua mấy xóm th́ tới.
Nếu không kể tới lũ em cô Bàng th́ chúng tôi
chơi chung, đi học chung với nhau rất vui vẻ. Nhóm con trai có tṛ chơi riêng, nhóm
con gái chơi riêng. Đôi khi
nhóm con gái cũng bu them đám con trai để xem đá
dế, bắt ve. Hoặc
đám con trai bị đám con gái dụ chơi tṛ cô dâu chú
rể.
Thích nhất là tết
Trung Thu, sau khi rước đèn, đám con nít tụ
họp lại trước sân nhà tôi, cắm nến chung
quanh khoảng sân vuông vức chừng một mét, vừa
đủ chỗ kê một cái ghế nhỏ, cho anh tôi
ngồi đệm đàn mandolin, và chị em tôi thay phiên
nhau đứng hát. Lũ em cô Bàng cũng
biết thưởng thức văn nghệ, không phá
đám, nhập bọn ngồi nghe. Người lớn, con nít ngồi
lố nhố, đầy ngơ, vỗ tay
náo nhiệt. Chừng
mấy tiếng sau, khi anh em tôi đă thấm mệt, sân
khấu bỏ trống, chỉ c̣n ánh nến lập ḷe sắp
tắt th́ bố mẹ tôi ra giải tán, lùa chúng tôi vào nhà,
đi ngủ.
Đám con nít lớn
dần, phải lo học, bớt nghịch ngợm, phá
phách. Xóm cụt trở
nên yên tĩnh. Năm đó tôi thi đậu vào trường trung
học Gia Long. Mặc áo dài đi học trông ra dáng lắm. Thỉnh thoảng, con Khanh, cái
Hạnh, cái Ḥa, sang nhà tôi, hay tôi và các em sang nhà cái Hạnh,
chơi búp bê, nấu ăn, chứ không thơ thẩn
chơi ngoài ngơ nữa.
Rồi gia đ́nh
thằng Can dọn vào căn gác nhà bà Luân.
Thằng
Can mười ba, cao và ốm tong. Bố nó làm nghề thầy bói, nên tên của ông là
Tư Thầy Bói. Ổng
dán cái tờ giấy to khổ ngay trên tường, có
vẽ bàn tay với những
đường chằng chịt và bên dưới có h́nh
mấy con bài. Ông
bà Tư ít giao thiệp với ai. Bà Tư ở nhà,
phụ chồng tiếp khách, ngày lai rai vài ba người,
bữa có bữa không.
Con Hạnh nói bà Tư
là mẹ ghẻ của thằng Can và bả không có
thương nó, mẹ ruột nó chết cách đây hai
năm. Nh́n là
biết ngay thằng Can xấu số, nó chỉ có vài cái
quần đùi và áo thun bạc màu, có hôm nó cởi trần,
thấy rơ mấy cái xương sườn. Thằng Can thường trốn học đi
theo bọn du côn ngoài chợ. Nó bị la mắng và bị đ̣n hoài. Ông bà Tư cứ nhè đôi chân
tong teo của nó mà đánh cho bỏ thói đi hoang. Ông th́ kéo cái thắt
lưng da từ cạp quần, bà th́ dùng cái roi tre dài,
quất vun vút. Thằng Can chạy quanh trước nhà tránh
đ̣n, một hồi thấy hai chân nó lằn ngang dọc,
đỏ ối. Bà
cụ Tịch, cô Kỳ, và mẹ tôi chạy ra xin, bà Luân giựt
cái roi tre ra khỏi tay bà Tư, c̣n ông Luân
th́ can ông Tư. Cô Nga đang có
bầu, người cô nhỏ, cái bụng thiệt to,
ưỡn ra đằng trước, lạch bạch,
nghiêng ngả, ở trong nhà nói bóng gió mai mỉa cảnh
mẹ ghẻ con chồng. Lũ
trẻ con th́ lấp ló từ trong nhà nh́n ra, chỉ có lũ em cô Bàng là đứng ỏ hiên nhà xem
rất thú vị.
Mẹ tôi gặp nó lang thang ngoài ngơ mấy lần, cho ăn và
khuyên lơn nó. Nó
không căi, chỉ dạ, và cám ơn mẹ tôi đă có ḷng
thương. Bà cụ Tịch mua quần áo, cho nó ít tiền, và muốn
nuôi nó như con, nhưng nó không chịu. Tội nghiệp bà cụ mong có được
một đứa con trai, bà sẽ cưng chiều nó
như ḥn vàng ḥn ngọc.
Thằng
Can bị đánh như cơm bữa mà vẫn chứng nào
tật nấy. Ông bà Tư thấy
mặt nó th́ đuổi đi. Đến đêm nó lần ṃ
về nhà, nằm ngủ ở cầu thang, khi nghe tiếng
ông bà Tư lục đục dậy th́ nó dụi mắt,
ngáp dài, rồi nhảy mấy bực thang, vụt ra ngoài
ngơ, biến mất. Hàng xóm
thấy nó không chịu sửa đổi cũng không can
gián nữa và quen dần với những trận đ̣n
của nó. Cô Nga cũng thôi xỏ
xiên cảnh mẹ ghẻ con chồng.
Lũ trẻ xóm tôi lúc
đầu c̣n thấy tội nghiệp, nó muốn chơi
chung hay đứng nh́n cũng được, nhưng sau đâm
ra ghét, hễ thấy nó là bọn tôi nguưt ngoáy, ra chiều
khinh bỉ, rồi kéo nhau đi chỗ khác, nó thấy
vậy lầm lũi bỏ đi.
Có lần lũ em cô
Bàng chơi Ô Quan, nó đứng xem, bị đuổi, không
chịu đi, thế là lũ em cô Bàng túm nó đánh túi
bụi, đến chảy máu mũi dầm dề. Nó đánh không
lại, bỏ chạy về nhà. Một lát thấy ông bà Tư kéo tay nó qua nhà cô Bàng.
Bà xỉa xói, mắng chúng là ỷ đông ăn hiếp thằng Can. Một tay bà vung vẩy cái roi mây, thách
chúng có giỏi th́ ra đây mà đánh bà, một tay bà
đẩy thằng Can ra trước mặt, chỉ
vết máu trên mũi, trên áo thun cho mọi người đều
thấy. Lũ em
cô Bàng trốn trong nhà, đóng cửa im thin thít. Chửi một hồi thấm
mệt, bà bỏ về, ông Tư và thằng Can lẽo
đẽo theo sau. Từ đấy về sau lũ em cô Bàng không ăn hiếp thằng Can
nữa.
Mọi
người quá đỗi ngạc nhiên khi thấy ông bà
Tư xót con. Ai cũng hy vọng
là từ nay nó sẽ được yêu thương, sẽ
ngoan hơn và sẽ hết bị những trận đ̣n tàn
nhẫn.
Vài
tuần sau, tôi đang ngồi học trên lầu, mắt
lơ đăng nh́n ra đầu ngơ, th́ nghe thấy tiếng
quát tháo ầm ầm, đứt quăng từ phía nhà ông
Tư. C̣n đang thắc mắc th́ thấy
thằng Can chạy ào ra ngơ với ông Tư bén gót theo sau. Ông túm
được nó dễ dàng, gh́ chặt nó trong ṿng tay rắn chắc, miệng không ngớt
chửi:
-
Tổ cha
mầy, chạy đâu thoát, kỳ này chết nghen con, tao
đánh cho chừa cái tật ăn
cắp nghen con. Đồ
nghịch tử, báo cha, hại mẹ. Chết đi cho rảnh
nợ. Con ǵ mày.
Bà Tư lật
đật chạy theo ra, tay cầm cái
roi tre, la ó:
-
Lột quần áo nó ra, đánh cho chết. Dám ăn
cắp nữ trang của tao. Dấu đâu đem ra đây. Trả cho tao th́ tao
tha cho.
Thằng Can ĺ lợm , không trả lời, cũng chẳng
van xin.
Ông Tư nổi
đóa, táng cho nó một bạt tai. Thằng Can xiểng
liểng, chúi đầu vô tường.
Hai
người vừa lột quần áo nó vừa mắng
chửi ầm ĩ. Chợt thấy cái
thân h́nh lơa lồ của thằng con trai mới lớn, tôi
mắc cở, chăm chú vào cuốn sách trước
mặt.
Tiếng
roi đ̣n vun vút, tiếng chửi ồn ào không ngớt. Tính hiếu kỳ thúc đẩy tôi nh́n tiếp. Tôi thấy thằng Can
úp người vào tường, chịu trận, lưng
oằn lên v́ những roi đ̣n ngang dọc, rướm máu
đỏ au. Chắc
nó xấu hổ, đứng như thế để che
bớt sự lơa lồ.
Cô Nga phẫn nộ:
-
Bộ
muốn đánh chết nó rồi vào tù ngồi sao?
Bà Tư dằng co,
rồi vuột khỏi tay mẹ tôi, níu
chặt cánh tay thằng
-
Tui đánh cho
nó chết luôn. Nó ăn cắp nữ trang của tui. Mất, mất rồi. Trời ơi là trời.
-
Để
từ từ rồi dỗ ngọt nó nói ra, chứ bà
đánh chết nó th́ biết đâu mà t́m lại.
Mẹ tôi can, luưnh quưnh
cố gỡ tay bà. May có cô Kỳ và bà
Chính ra giúp sức mới kéo bà Tư lại được,
đẩy bà lên gác, rồi đứng chặn ở
đầu cầu thang. Mỗi lần bà Tư nhào xuống lại
đẩy lên. Ông Tư cũng
lên theo vợ, miệng lẩm bẩm
những câu chửi tục.
Dưới
nhà, bà Luân lấy quần áo cho thằng Can mặc, rồi
đẩy nó ra ngơ. Tuy chẳng biết nó sẽ
đi đâu, nhưng bà không muốn giữ nó trong nhà, làm
gương xấu cho lũ con và sợ
ông bà Tư lại t́m nó đánh thêm.
Thằng
Can đi luôn từ đó.
Tết
Trung Thu năm ấy, anh em tôi lại có văn nghệ
trước nhà. Đang hát, tôi bỗng
thấy nó đứng lấp ló ở đầu ngơ. Từ khi con Hạnh kể cho tôi
nghe là nó thích tôi và có vài lần đi theo
tôi một quăng đến trường Gia Long, tôi thấy
nó thật tội nghiệp. Tôi
hát tiếp liền bài “Nỗi Buồn Gác Trọ”, gián
tiếp tặng nó, không biết nó có thích không, chỉ
bắt gặp đôi mắt long lanh sáng. Nó đi trước
khi cuộc vui tàn.
Vài tháng
sau, gia đ́nh tôi dọn nhà về Chợ Lớn, không có
liên lạc với xóm cũ nữa.
Cho đến một
hôm, mẹ tôi và tôi đi chợ Bến Thành, t́nh cờ
gặp cô Nga, giờ cô đă ba con, trông xồ xề, khó
nhận ra. Cô cho
biết là sau khi chúng tôi đi, cô Kiên cũng dọn nhà,
rồi đến ông bà Chính.
Mẹ tôi hỏi thăm thằng Can. Cô bảo nó đi
lính Dù, có về thăm ông bà Tư một lần. Tôi nghe vậy cũng mừng cho
nó đă không theo băng đảng du
côn, và t́m được chút t́nh thương, che chở
trong t́nh đồng đội, huynh đệ chi binh.
Nguyễn P. Thúy,
04/20/06