Hai Bà Trưng và Phụ Nữ Trong Thế Kỷ 21

 

 

Hai Bà Trưng là những nữ anh hùng đầu tiên của Việt Nam, đă đánh thắng quân Đông Hán, chấm dứt ách thống trị, giải phóng đất nước.  Sự kiện này nói lên tinh thần độc lập và đoàn kết của dân tộc Việt.

 

Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, cách đây 1970 năm, thời Đông Hán, quan thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định rất bạo ngược, tàn ác, áp đặt mạnh mẽ chính sách đô hộ đồng hóa.  Dân chúng rất oán hận v́ khổ sở và nghèo đói, lại phải đóng sưu cao, thuế nặng, bị chiếm đất, bị kiểm soát chặt chẽ và không được tự do buôn bán, đi lại.

 

Tô Định giết Thi Sách (1) là con trai quan lạc tướng quận Châu Diên.  Vợ của Thi Sách là Trưng Trắc, con quan lạc tướng huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ cùng với em là Trưng Nhị v́ thù nhà và sự đô hộ tàn bạo đă khởi binh đánh đuổi Tô Định chạy về quận Nam Hải. Người dân ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đến hưởng ứng rất đông, sức mạnh như vũ băo.  Hai Bà đoạt được 65 thành tŕ ở đất Lĩnh Nam trong ṿng mấy tháng, rồi tự lập ngôi vua năm Canh Tí (40 AD), xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh (dân gian gọi là vua Bà).

 

Tháng 12, mùa đông năm Tân Sửu (41 AD), nhà Hán sai Phục Ba Tướng quân Mă Viện, đem đại binh tinh nhuệ sang đánh Hai Bà v́ tội tự xưng vương, tạo chiến tranh làm cho dân ở biên giới bị khổ sở.  Đến tháng 3, năm Nhâm Dần (42 AD), quân của Mă Viện đi ven theo bờ biển, phá rừng, đào núi làm đường, hợp với Lưu Long dẫn thủy quân từ đảo Nam Hải tiến vào Lăng Bạc (vùng Hồ Tây, Hà Nội ngày nay). Sau mấy trận đánh khốc liệt, Vua Bà thấy đoàn quân ô hợp của ḿnh liệu không địch nổi binh lính Đông Hán đă từng đánh giặc nhiều phen, nên đem quân về Mê Linh cố thủ.  Mă Viện lại thốc quân đánh tiếp.  Quân Vua Bà hoảng sợ, vỡ tan.  Hai Bà gấp rút về Cẩm Khê.  Đến làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, thấy t́nh thế nguy ngập, không muốn để giặc bắt, Hai Bà trầm ḿnh xuống ḍng Hát Giang tự tận vào ngày 6 tháng Hai, năm Quí Măo (43 AD).  Hai Bà chết để dành lại quyền tự do cho dân chúng và độc lập cho đất nước.

 

Sau đó, Mă Viện cho dựng cột đồng tại huyện Cư Phong (bây giờ thuộc tỉnh Thanh Hóa) khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ triệt” để cảnh cáo dân Việt và ghi địa giới tận cùng phía Nam của nhà Hán.

 

Người dân miền Bắc c̣n truyền khẩu là xác Hai Bà nổi lên trên sông, phủ đầy hoa do đàn chim tha đến, dạt vào băi Đồng Nhân, Hà Nội, được dân chúng vớt lên và lập đền thờ.  Hai Bà rất linh thiêng, những lúc dân gặp tai ương, hạn lụt, đến cầu xin đều được tai qua nạn khỏi.  Hai Bà được thờ cúng tại nhiều nơi như đền thờ ở làng Hát môn, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây (nay là Hà Tây gồm 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây), ở phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, và ở làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Hà Nội.

 

Nước Việt Nam là một nuớc nhược tiểu thế mà đă có hai vị nữ anh hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm trong khi đó nước Pháp phải đến ngàn năm sau mới có Jeanne d’Arc.  Thật hănh diện biết bao!  Sự hănh diện này c̣n tăng lên bội phần nếu chúng ta phân tích xă hội thời đó là một xă hội bị trị, dựa trên quan niệm Hán hóa “trọng nam, khinh nữ” và “chồng chúa vợ tôi”, phận sự của người đàn bà là cái nhà, xó bếp.  Đời sống và vai tṛ của người đàn bà trong xă hội xem như là không quan trọng, không hiện hữu. Thế mà Hai Bà đă can đảm vượt qua sự đối xử cách biệt của xă hội và bất công của phong tục tập quán, làm đảo lộn trật tự Trời Đất để đứng lên phất cờ khởi nghĩa, dựng nên nghiệp lớn.  Hai Bà phải người tài đức, mưu trí mới được sự ủng hộ của dân, sự pḥ trợ của những anh hùng liệt nữ.  Hai Bà phải là người giỏi điều binh khiển tướng lại dũng cảm hơn người mới hiên ngang đương đầu với quân thù ngoài chiến trường.  Ai mà không sợ chết, nhưng Hai Bà lại thà chết hơn là sống nhục, sa vào tay giặc.  Sự hy sinh của  Hai Bà thật phi thường và vĩ đại!

 

Hai Bà đă cho chúng ta thấy rằng dù là nữ nhi, dù ở trong mọi hoàn cảnh khó khăn vẫn làm nên việc lớn, ích quốc lợi dân, nếu chúng ta có mục đích cao cả, sự tin tưởng, tận tâm, can đảm và t́nh thương, th́ không thành danh cũng thành nhân.  Hai Bà đă là gương sáng cho hậu thế và cho phụ nữ Việt Nam noi theo.

 

Lễ kỷ niệm Hai Bà,  được tổ chức hằng năm tại thủ đô Sài G̣n, với các nữ sinh Trưng Vương và Gia Long thay phiên đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị, mặc áo dài vàng, đội khăn vành vàng, mang hài cườm, dắt kiếm, ngồi trên kiệu voi, trông thật xinh đẹp, uy nghi và bệ vệ.  Sau Tháng Tư Đen, từ khắp bốn phương trời, trong hoàn cảnh tự túc eo hẹp, cộng đồng người Việt tị nạn CS vẫn trang trọng cử hành lễ Hai Bà  để tưởng nhớ và ghi ơn sự đóng góp của Hai Bà trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.

 

 

            

 

Đền thờ của Hai Bà tại phố đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội            Voi diễn hành nhân ngày Lễ Hai Bà Trưng 7 tháng 3 năm 1957 tại Sài G̣n.

                       

 

Ngày nay, vai tṛ của người phụ nữ được đề cao, được công nhận trên thế giới qua Ngày Quốc Tế Phụ Nữ, ngày 8 tháng 3.  Nhiều tổ chức thiện nguyện được thành lập để tranh đấu và bảo vệ nhân phẩm, quyền lợi căn bản của nữ giới.  Ngoài việc chu toàn những bổn phận trong gia đ́nh, người phụ nữ đă có những cơ hội nắm giữ những vị trí lănh đạo quan trọng trong mọi lănh vực, có những đóng góp tích cực cho xă hội, cho nhân loại, và nhân quyền.  Sự đóng góp của họ rất cần thiết để xoa dịu những đau thương, đổ vỡ, để xây dựng một thế giới nhân ái, ḥa b́nh, và xóa hẳn những phong tục dă man mà xă hội của những nước chậm tiến đă áp đặt lên nữ giới như thiến bộ phận kín của các bé gái bên Phi Châu, hay ném đá cho đến chết những người đàn bà yêu lén lút bên Trung Đông, hay tệ nạn buôn người và nô lệ t́nh dục.

 

Người phụ nữ Việt Nam, không hổ danh là con cháu Hai Bà, với sức mạnh tiềm tàng, sự nhẫn nại, chịu đựng vô song, và t́nh yêu nước mănh liệt đă từng dấn thân, tham gia vào công cuộc mở nước, giữ nước, dành độc lập thời Hán thuộc, thời Pháp thuộc, và thời nội chiến chống xâm lăng của CS. 

 

Trong thế kỷ 21, nước Việt Nam có nhiều vấn đề nan giải.  Đối nội, phải đương đầu với những đ̣i hỏi nhân quyền, hoành hành tham nhũng, lan tràn bất công xă hội, bóc lột xuất khẩu lao động, vấn nạn buôn người và làm nô lệ t́nh dục kinh hoàng đối với các phụ nữ và trẻ em Việt Nam tại các nước Á Châu lân cận.  Nền văn hóa chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Hoa, mất dần tính chất đặc thù của dân tộc.  Những vấn nạn này là do đảng CS thực hành Xă Hội Chủ Nghĩa lại không đủ khả năng để lănh đạo, đưa dân tộc đến chỗ phú cường. 

 

Đối ngoại, đảng CS không đủ tư cách và thực lực để bảo vệ giang sơn và quyền lợi của dân tộc.  Trung Hoa như một anh hàng xóm khổng lồ, hung bạo, chỉ chực ăn hiếp người láng giềng ươn hèn, sợ sệt.  Cột mốc biên giới đă bị đẩy lùi vào lănh thổ Việt Nam.  Một phần thác Nam Quan, Bản Giốc đă bị lấy mất.  Chủ quyền của Việt Nam trên đảo Trường Sa, Hoàng Sa đă bị Trung Hoa chối bỏ.  “Tàu lạ” (2) tung hoành ở Đông Nam hải và đàn áp dân đánh cá địa phương.  Rất đông người Trung Hoa ồ ạt vào vùng cao nguyên qua các chương tŕnh khai thác hầm mỏ.  Họ sống biệt lập và hống hách với dân địa phương.

 

 Trước cảnh nước nhà suy sụp, đạo đức suy đồi, hiểm họa mất chủ quyền đất nước,và nguy cơ lệ thuộc vào Trung Hoa, tinh thần Hai Bà Trưng đă như ngọn lửa thiêng hừng hực cháy trong tâm khảm, đă đốc thúc phụ nữ Việt Nam phải hăng hái đảm nhận sự thử thách, nhận trách nhiệm, hoàn thành trách nhiệm với t́nh thương và sự tận tâm để bảo vệ quyền lợi và cơ đồ của dân tộc.  Những khi tâm hồn dao động, ư chí hao ṃn, thân xác kiệt quệ, hăy nhớ đến sự hy sinh của Hai Bà.  Hăy h́nh dung đến những giây phút cuối của Hai Bà, để thấy ḷng se thắt, xót xa đến ứa lệ, để thấy ḿnh c̣n quá thua kém tiền nhân, để mà cố gắng nhiều, nhiều hơn nữa, v́ Tự Do phải trả bằng máu và sinh mạng!  Đừng do dự, chần chờ v́ ḷng dân đang mong đợi, tổ quốc đang réo gọi.  Bằng văn hóa, bằng nghệ thuật, bằng công việc chuyên môn, bằng học vấn, bằng đóng góp dân sự hay quân sự, bằng chống đối, bằng ngồi tù,…bằng mọi cách, quyết noi gương Hai Bà để phụng sự tổ quốc và làm rạng danh phụ nữ Việt Nam.

 

 

Hát Giang Sóng Cuộn

 

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở huyện Mê Linh vào năm Canh Tí (40 AD) đă để lại những trang sử hào hùng cho hậu thế.

Dẫu rằng lực lượng yếu kém lại không gặp thời, nhưng hành động của Hai Bà đă làm chấn động ḷng người và triều đ́nh Đông Hán.

Tác giả h́nh dung giờ phút cuối của Vua Bà qua bài thơ này, để ca ngợi bà, là phụ nữ nhưng lại can đảm phi thường.

 

Quận Giao Chỉ, Định quan Thái thú,

Tàn bạo, tham lam, cướp của, giết người.

Thù nhà, nợ nước, mối hận khôn nguôi,

Chị em khởi nghĩa, trọn đời hy sinh.

Trên lưng voi, vung kiếm thép điều binh,

Cờ lọng phất phới, uy nghi Hai Bà.

65 thành tŕ đoạt lại về ta,

Tàn quân Định chạy ra Nam Hải.

Đô Mê Linh, đất Lĩnh Nam một giải,

Xưng Vua Bà, làm rơ mặt quần thoa.

Triều đ́nh Hán rúng động, lo xa.

Sai Mă Viện, Lưu Long mang quân đánh.

Năm Nhâm Dần, mùa xuân, thất bại,

Lăng Bạc thua, phải chạy đến Cẩm Khê.

Thế yếu, quân vỡ tứ bề,

Thân cô, lực tận, biết về nơi nao?

   Rừng sâu lạc lối, hoang mang,

Vẳng tiếng kêu thét của ngàn thương binh.

Nặng nề lê bước chân đi,

Đến ḍng sông Hát, ầm ́ sóng vang. (3)

Hoàng hôn chiếu rọi trên ngàn,

Sắc trời nhợt nhạt, màn đêm xuống dần.

 

Than ôi bước đường cùng,

Không chỗ dung thân, ẩn náu,

Trước mặt ḍng sông sóng cuộn đục ngầu.

Quân Đông Hán đuổi theo sau,

Thê lương, u uất nhuốm màu cỏ cây.

Gục đầu nuốt hận,

Đau nào hơn, nhục nào hơn,

 thua trận, tan hàng.

Bi thương, lệ đẫm, khấn thầm:

Thù nhà, nợ nước chưa xong kiếp này.

Luân hồi xin được đầu thai,

Bảo toàn đất Việt, diệt bầy Tàu ô.

Sụp đầu tạ lỗi núi sông,

Vọng bái quê cũ, linh hồn dân quân.

Đành dùng nước rửa phong trần, (4)

Giữ vẹn khí tiết, tinh thần Mê Linh.

Trăng vụn vỡ lung linh,

Sóng cuồn cuộn quanh ḿnh,

Lạnh buốt tim, run bần bật,

Đất trời đen thẳm, đổ ập, nhận ch́m.

Buông xuôi một kiếp phù sinh,

Ngàn năm lưu sử: Mê Linh, Vua Bà.

 

 

(1)     Theo những nguồn sử liệu khác, chồng bà Trưng Trắc tên là Thi, đă theo Hai Bà đánh giặc và sau đó bị tử trận.

(2)     Đảng CSVN ươn hèn, không dám nêu đích danh tầu Trung Cộng tung hoành ở lănh hải của VN, chỉ dám gọi là “tầu lạ”.

(3)     Sông Hát (Jin river) là một phần của sông Đáy bây giờ.

(4)     Sử Trung Hoa và quyển The Birth of Vietnam của ông Keith Weller Taylor cho là hai Bà bị bắt và bị chém đầu, nhưng theo Đại Việt Sử Kư Toàn Thư th́ hai Bà đă trầm ḿnh ở sông Hát, năm Quư Măo (43 AD). Dù chết bằng cách nào cũng không làm giảm giá trị của sự hy sinh.  Cái chết của Vua Bà là một hy sinh đại!

 

Nguyễn P. Thúy, 10/29/2010